Quán triệt Nghị quyết 10-NQ/TW: 06 chuyển đổi lớn về tư duy phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Sáng 30/6, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đã trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết 10-NQ/TW, nhằm thống nhất nhận thức và định hướng tổ chức thực hiện trong toàn hệ thống chính trị.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên dự Hội nghị.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc nêu rõ, gần 40 năm qua, chủ trương mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài là một quyết sách chiến lược đúng đắn của Đảng, góp phần quan trọng huy động nguồn lực quốc tế cho phát triển, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở rộng hội nhập và nâng cao vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế thế giới. Bước sang giai đoạn phát triển mới, bối cảnh quốc tế và trong nước đã có nhiều thay đổi sâu sắc. Cạnh tranh chiến lược, sự phát triển đột phá của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh cùng sự dịch chuyển của các chuỗi cung ứng và dòng vốn toàn cầu đang đặt ra những yêu cầu mới đối với mô hình phát triển của đất nước.
Trong bối cảnh đó, phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không thể chỉ dừng lại ở mục tiêu thu hút nhiều hơn nguồn vốn, mà phải hướng tới nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức lan tỏa của các dòng vốn quốc tế; kết hợp chặt chẽ nguồn lực bên ngoài với nội lực của nền kinh tế để nâng cao năng lực sản xuất, năng lực đổi mới sáng tạo, năng lực quản trị và năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc giới thiệu nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc trình bày 04 nội dung trọng tâm của Nghị quyết, gồm: Bối cảnh và sự cần thiết ban hành Nghị quyết; Những tư tưởng chỉ đạo và các điểm đổi mới cốt lõi; Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm; Những yêu cầu đặt ra đối với toàn hệ thống chính trị trong tổ chức thực hiện.

Các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham dự Hội nghị.
Bước chuyển tư duy quan trọng từ thu hút vốn sang phát triển hệ sinh thái kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hiện đại, hiệu quả và bền vững
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc khẳng định, để quán triệt đúng tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW, trước hết cần thống nhất nhận thức về bối cảnh và yêu cầu đặt ra đối với phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn mới. Trong đó, có thể khái quát thành 03 vấn đề lớn:
Thứ nhất, sau gần 40 năm đổi mới, chủ trương mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển đất nước. Việt Nam đã trở thành điểm đến đầu tư hấp dẫn của khu vực, thu hút trên 549 tỷ USD vốn đăng ký, với hơn 46 nghìn dự án còn hiệu lực, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển xuất khẩu, tạo việc làm, nâng cao năng lực quản trị và vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế thế giới. Có thể khẳng định, chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng trong gần bốn thập kỷ qua là hoàn toàn đúng đắn và đạt được những kết quả rất quan trọng.
Thứ hai, mô hình phát triển hiện nay cũng đã bộc lộ những giới hạn. Chất lượng và sức lan tỏa của một bộ phận dự án còn thấp; liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước chưa chặt chẽ; chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ, thị trường vốn và đầu tư gián tiếp chưa tương xứng với tiềm năng. Điều đó cho thấy, trong giai đoạn tới, yêu cầu không chỉ là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút chất lượng cao hơn, công nghệ cao hơn, giá trị gia tăng lớn hơn và tạo sức lan tỏa mạnh hơn đối với nền kinh tế.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên và các đại biểu tham dự Hội nghị.
Thứ ba, bối cảnh phát triển của đất nước và thế giới đang thay đổi sâu sắc. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, cùng sự tái cấu trúc các chuỗi cung ứng và dòng vốn quốc tế đang mở ra cả thời cơ và thách thức mới. Để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam cần một tư duy phát triển mới đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Chính từ yêu cầu đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc chỉ rõ: Nghị quyết số 10-NQ/TW không chỉ là Nghị quyết điều chỉnh đơn thuần về thu hút đầu tư nước ngoài, mà là Nghị quyết về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn phát triển mới của đất nước; đánh dấu bước chuyển quan trọng từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển hệ sinh thái kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hiện đại, hiệu quả và bền vững, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.
6 quan điểm chỉ đạo trong phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đã giới thiệu 6 quan điểm chỉ đạo cốt lõi trong phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được nêu trong Nghị quyết số 10-NQ/TW, gồm:
(1) Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, là kênh tiếp nhận vốn, công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giúp mở rộng thị trường; được Nhà nước khuyến khích phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác.

Đại biểu tham dự Hội nghị tại điểm cầu Nhà Quốc hội.
(2) Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả, năng lực tự chủ chiến lược, sức cạnh tranh của nền kinh tế, mở rộng mạng lưới thị trường, tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.
(3) Chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng,… làm tiêu chí chủ yếu.
(4) Phát triển đồng bộ, thống nhất hệ sinh thái đầu tư nước ngoài, gắn với chiến lược phát triển doanh nghiệp trong nước, phát triển thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do...
(5) Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu về tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư nước ngoài.
(6) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiến tạo của Nhà nước; nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều phối quốc gia; lấy kết quả đóng góp thực chất làm thước đo chủ yếu trong thu hút, quản lý và sử dụng đầu tư nước ngoài.

Toàn cảnh Hội nghị tại điểm cầu Nhà Quốc hội.
Chuyển từ phát triển FDI đơn lẻ sang phát triển đồng bộ hệ sinh thái các dòng vốn quốc tế
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc cho biết, từ 06 quan điểm chỉ đạo nêu trên, chúng ta nhận thấy đã có 06 chuyển đổi lớn về tư duy phát triển:
Thứ nhất, chuyển từ tư duy thu hút đầu tư nước ngoài sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết tiếp cận toàn diện hơn, bao quát cả đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn và các thiết chế tài chính quốc tế; coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế, phát triển hài hòa với khu vực kinh tế trong nước để phục vụ mục tiêu phát triển quốc gia.
Thứ hai, chuyển từ coi trọng quy mô vốn sang coi trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Trọng tâm không còn là thu hút nhiều dự án hơn, mà là lựa chọn các dự án có công nghệ tiên tiến, đổi mới sáng tạo, quản trị hiện đại, có khả năng lan tỏa và đóng góp thiết thực vào nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Thứ ba, chuyển từ ưu đãi theo đầu vào sang ưu đãi theo kết quả. Chính sách ưu đãi được đổi mới theo hướng gắn với việc thực hiện các cam kết về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực, liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.

Đại biểu dự Hội nghị tại điểm cầu Nhà Quốc hội.
Thứ tư, chuyển từ phát triển FDI đơn lẻ sang phát triển đồng bộ hệ sinh thái các dòng vốn quốc tế. Đây là điểm mới nổi bật của Nghị quyết khi đặt đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế và các không gian phát triển mới (như khu thương mại tự do, các đặc khu kinh tế...) trong một chỉnh thể thống nhất nhằm nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực.
Thứ năm, chuyển từ quản lý đầu tư sang kiến tạo môi trường đầu tư và phát triển. Nhà nước tập trung hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, phát triển hạ tầng, nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo để tạo môi trường thuận lợi cho các nguồn lực trong nước và quốc tế cùng phát triển.
Thứ sáu, chuyển từ cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương sang điều phối phát triển ở tầm quốc gia. Nghị quyết yêu cầu tăng cường liên kết vùng, liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với khu vực kinh tế trong nước, phát huy vai trò của các cực tăng trưởng, đổi mới sáng tạo để nâng cao hiệu quả phát triển chung của nền kinh tế.

Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc giới thiệu nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
"Sáu quan điểm chỉ đạo với các điểm đổi mới trên cho thấy, nếu trước đây trọng tâm là thu hút các nguồn vốn quốc tế, thì trong giai đoạn mới, mục tiêu cao hơn là phát huy hiệu quả các nguồn lực đó để cùng với nội lực của đất nước kiến tạo những năng lực phát triển mới, nâng cao năng lực tự chủ, năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của nền kinh tế", Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc khẳng định.
Hướng tới mục tiêu cao hơn là nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và năng lực tự chủ của nền kinh tế
Về các mục tiêu của Nghị quyết, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc cho biết, Nghị quyết số 10-NQ/TW đã xác định rõ mục tiêu phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, gồm cả mục tiêu tổng quát cũng như mục tiêu cụ thể đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
Các mục tiêu của Nghị quyết không chỉ là những chỉ tiêu về thu hút đầu tư, mà hướng tới mục tiêu cao hơn là nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Theo đó, Nghị quyết đặt mục tiêu tổng quát là đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao cho đầu tư phát triển. Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài, nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan toả với các khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu các chuỗi cung ứng toàn cầu; góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tăng cường năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia.
Đến năm 2030, Nghị quyết đặt mục tiêu tạo chuyển biến căn bản về chất lượng và hiệu quả phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có 04 định hướng lớn: Thu hút 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký, trong đó vốn thực hiện đạt 150 - 200 tỷ USD. Nâng cao chất lượng dòng vốn với 75% vốn đăng ký mới đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm năng về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại. Tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45 - 50%. Có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nâng hạng thị trường chứng khoán lên thị trường mới nổi trước năm 2030, tạo nền tảng thu hút mạnh mẽ hơn các dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế.

Đại biểu dự Hội nghị tại điểm cầu Nhà Quốc hội.
Mục tiêu đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển hiệu quả, bền vững, gắn kết chặt chẽ với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân; Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất, dịch vụ, đổi mới sáng tạo và điều hành khu vực của nhiều tập đoàn đa quốc gia, qua đó nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đóng góp khoảng 30% GDP.
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc khẳng định: Có thể khái quát mục tiêu của Nghị quyết bằng một thông điệp: "thành công trong giai đoạn mới không được đo chủ yếu bằng số lượng dự án hay quy mô vốn thu hút, mà bằng chất lượng các dòng vốn, năng lực công nghệ, mức độ đổi mới sáng tạo, liên kết với doanh nghiệp trong nước và những đóng góp thực chất đối với sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước".
7 nhóm nhiệm vụ đột phá thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW
Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 10-NQ/TW xác định hệ thống nhiệm vụ, giải pháp toàn diện, có thể khái quát thành 07 nhóm đột phá:
Thứ nhất, đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển, coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế và là động lực quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Khắc phục tình trạng các địa phương cạnh tranh thu hút đầu tư chạy theo số lượng; kiên quyết không đánh đổi môi trường, tài nguyên, an sinh xã hội và an ninh kinh tế để đổi lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.

Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc giới thiệu nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Thứ hai, đột phá về thể chế, tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và có sức cạnh tranh quốc tế; đổi mới chính sách ưu đãi theo hướng gắn với hiệu quả hoạt động và các kết quả thực hiện các cam kết của dự án. Hình thành cơ chế lựa chọn, hỗ trợ, quản lý nhà đầu tư chiến lược. Áp dụng quy trình thủ tục đầu tư đặc biệt và cơ chế ưu đãi cho các dự án công nghệ chiến lược có quy mô lớn, tác động liên vùng, có tiềm năng dẫn dắt chuỗi cung ứng; dự án công nghệ cao có cam kết chuyển giao công nghệ. Thí điểm mô hình thể chế vượt trội tại một số khu vực…
Thứ ba, phát triển đồng bộ nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng, nhất là: Xây dựng chương trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu của các ngành, lĩnh vực ưu tiên. Có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích việc sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cấp và từng bước giao nhiệm vụ kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế, vận hành chuỗi cung ứng cho người Việt Nam. Thu hút nhân tài, trọng dụng chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân có trình độ cao đến làm việc tại Việt Nam. Ưu tiên các hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng, hạ tầng số và dữ liệu, tạo nền tảng thu hút các dự án công nghệ cao và nâng cao chất lượng các dòng vốn đầu tư.
Thứ tư, định hướng thu hút đầu tư thế hệ mới, đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư theo hướng chủ động, có trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên xúc tiến, thu hút đầu tư một số lĩnh vực cốt lõi, các dự án, nhà đầu tư có công nghệ nền tảng, các dự án công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, trung tâm nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các ngành có giá trị gia tăng cao. Tiếp cận, vận động, đàm phán và đồng hành với nhà đầu tư chiến lược, dự án chiến lược. Đối với các địa phương còn khó khăn, thu hút đầu tư phải phù hợp thực tế, nâng dần chất lượng, không hình thành mặt bằng ưu đãi thấp để cạnh tranh thu hút đầu tư.

Đại biểu tham dự Hội nghị tại điểm cầu Nhà Quốc hội.
Thứ năm, nâng cao hiệu quả lan tỏa của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp Việt Nam, phát triển công nghiệp hỗ trợ, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, qua đó nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Cho phép doanh nghiệp khấu hao nhanh đối với tài sản số và tài sản xanh.
Thứ sáu, phát triển đồng bộ đầu tư gián tiếp nước ngoài và thị trường tài chính, đẩy mạnh nâng hạng thị trường chứng khoán, phát triển thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do và các thiết chế tài chính hiện đại để nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực. Nâng cao khả năng tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài, hoàn thiện hạ tầng giao dịch, các công cụ phòng ngừa rủi ro và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư.
Thứ bảy, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan liên quan trong phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tăng cường điều phối ở tầm quốc gia, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý đầu tư, nâng cao năng lực dự báo, giám sát và bảo đảm môi trường đầu tư minh bạch, ổn định, an toàn. Tổ chức thực hiện Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đối với cả Trung ương và địa phương. Tăng cường giám sát việc thực hiện cam kết của nhà đầu tư; kịp thời xử lý vi phạm, thu hồi ưu đãi hoặc áp dụng biện pháp phù hợp đối với trường hợp không thực hiện đúng cam kết. Tôn vinh, khen thưởng kịp thời đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài có đóng góp thực chất, dài hạn, tích cực cho các mục tiêu phát triển của đất nước.
Khẩn trương thể chế hóa, hoàn thiện hệ thống pháp luật, giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW
Để các nhiệm vụ này sớm đi vào cuộc sống và tạo chuyển biến thực chất, điều quyết định là tổ chức thực hiện Nghị quyết với sự vào cuộc đồng bộ của toàn hệ thống chính trị. Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ cho rằng, thành công của Nghị quyết không chỉ phụ thuộc vào chất lượng của văn bản, mà quan trọng hơn là quyết tâm chính trị và hiệu quả tổ chức thực hiện.

Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc giới thiệu nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Cụ thể, đối với Đảng ủy Quốc hội, cần khẩn trương thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Bộ Chính trị; rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường giám sát việc tổ chức thực hiện Nghị quyết.
Đối với Đảng ủy Chính phủ, các đảng ủy trực thuộc trung ương, các bộ, ngành, địa phương, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan liên quan, cần khẩn trương cụ thể hóa Nghị quyết thành chương trình, kế hoạch hành động với lộ trình, nhiệm vụ và trách nhiệm rõ ràng; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát để bảo đảm Nghị quyết được triển khai đồng bộ, thống nhất và hiệu quả.
Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tạo sự thống nhất về nhận thức và đồng thuận trong toàn xã hội.
Đối với các hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp, cần phát huy vai trò đồng hành cùng Nhà nước trong hoàn thiện chính sách, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy liên kết, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và thực hiện đầy đủ trách nhiệm xã hội, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết.

Đại biểu tham dự Hội nghị tại điểm cầu Nhà Quốc hội.
"Nghị quyết số 10-NQ/TW đã mở ra một giai đoạn phát triển mới đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Thành công của Nghị quyết đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với tinh thần thống nhất nhận thức, thống nhất hành động và quyết tâm thực hiện. Chúng tôi tin tưởng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sự chỉ đạo quyết liệt của Quốc hội, Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, địa phương cùng sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong và ngoài nước, Nghị quyết số 10-NQ/TW sẽ nhanh chóng đi vào cuộc sống, góp phần tạo bước phát triển mới cho đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới", Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tin tưởng.
PV