07/01/2026
Xây dựng quy trình công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh đa lượng nhả chậm từ nguồn cơ chất hữu cơ tạo ra từ rác thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hải Dương (thành phố Hải Phòng)
Chiều ngày 06/01, Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng tổ chức Hội nghị tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp thành phố: “Xây dựng quy trình công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh đa lượng nhả chậm từ nguồn cơ chất hữu cơ tạo ra từ rác thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hải Dương (thành phố Hải Phòng)”. Nhiệm vụ do Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội chủ trì thực hiện, TS. Vũ Đình Giáp làm chủ nhiệm. TS. Lê Lương Thịnh, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ làm Chủ tịch Hội Đồng.

Quang cảnh Hội đồng tư vấn, đánh giá nghiệm thu.
Triển khai nghiên cứu, Ban chủ nhiệm đã khảo sát lựa chọn cơ chất hữu cơ từ rác thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hải Dương (nay thuộc thành phố Hải Phòng). Kết quả cho thấy, mẫu Seraphin 2 (mẫu tại Công ty Seraphin) đáp ứng tốt nhất về pH, OM, NPK, kim loại nặng và an toàn vi sinh được chọn làm nguyên liệu chính sản xuất phân hữu cơ vi sinh đa lượng nhả chậm. Qua tuyển chọn và tối ưu hóa bộ chủng vi sinh vật từ 21 chủng vi khuẩn, 3 chủng hữu hiệu được lựa chọn là: Bacillus tequilensis HD6 (cellulase), Pseudomonas aeruginosa HD4 (phân giải P khó tan), Azotobacter chroococcum HD10 (cố định N). Điều kiện lên men tối ưu: pH 6-7, 34-36°C, 36-48 giờ; mật độ vi sinh đạt 10-10* CFU/g.
Từ kết quả thu được, Ban chủ nhiệm tiến hành xây dựng quy trình công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh đa lượng nhả chậm trên nền cơ chất hữu cơ. Quy trình được xác định dựa trên hiệu quả dinh dưỡng, tính kinh tế và khả năng đáp ứng các yêu cầu của QCVN 01-189:2019. Thành phần dinh dưỡng phối trộn gồm: 65% cơ chất hữu cơ, 10% than bùn, 8% urê, 9% supephotphat đơn, 4% kali clorua, bổ sung 1-3% chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu chứa ba chủng (Bacillus tequilensis HD6, Pseudomonas aeruginosa HD4 và Azotobacter chroococcum HD10) và 1% cao lanh làm phụ gia tạo cấu trúc. Viên phân được phủ màng PVA 2%, giúp kiểm soát quá trình hòa tan (315-479 ppm) và duy trì cơ chế nhả dinh dưỡng chậm ổn định theo thời gian. Sản phẩm phân hữu cơ vi sinh đa lượng nhả chậm thu được đáp ứng đầy đủ yêu cầu về OM, NPK, mật độ vi sinh hữu ích và an toàn theo QCVN; ổn định chất lượng trong 3 tháng bảo quản. Tỷ lệ nhả N-K-P trong nước cao (76-88% sau 7-8 tuần), phù hợp đặc tính phân nhả chậm. Trong môi trường đất, hàm lượng C, N, P, K hòa tan tăng theo mức bón; OM đất tăng từ 4,34% lên 4,58%, trong khi phân đối chứng giảm mạnh.

Chủ nhiệm nhiệm vụ TS. Vũ Đình Giáp trình bày trước Hội đồng
Quá trình thử nghiệm trên cây cà chua TV-913 F1 cho thấy, phân hữu cơ vi sinh nhả chậm của nhiệm vụ giúp tăng sinh trưởng chiều cao, đường kính thân, số lá, số cành, rút ngắn thời gian ra hoa, đậu quả. Năng suất đạt 1,78 kg/chậu, cao hơn loại phân thương mại và phân đối chứng; chất lượng quả (Brix, vitamin C, protein) vượt trội; tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch thấp nhất.
Với kết quả trên, Hội đồng khoa học thống nhất nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ sau khi Ban chủ nhiệm đề tài chỉnh sửa bổ sung một số nội dung sau: Bổ sung số lần lặp lại thí nghiệm và phương pháp xử lý sai số; bổ sung cập nhật tài liệu tham khảo mới; chỉnh sửa một số lỗi đánh máy;… Cuối cùng, bổ sung đánh giá khả năng phát triển thương mại của sản phẩm để hoàn thiện báo cáo./.
Phương Anh
Admin